Gần đây, một vấn đề quan trọng đang được trao đổi rất sôi động là nên duy trì hay nên bỏ lãi suất cơ bản (LSCB) do Ngân hàng Nhà nước công bố?
Những ý kiến đề nghị nên bỏ lãi suất cơ bản cho rằng, quy định LSCB tức là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng (sau đây gọi chung là TCTD) bằng mệnh lệnh hành chính và LSCB không phản ánh đúng quan hệ thị trường trên thị trường vốn.
Có ý kiến đánh giá, LSCB được sử dụng khi xây dựng Luật NHNN từ năm 1997, là một loại lãi suất do NHNN công bố để giúp các TCTD sử dụng làm cơ sở cho việc hình thành lãi suất kinh doanh, nhưng vai trò của LSCB cho đến năm 2008 rất mờ nhạt, thậm chí có những thời gian còn hơi bị lạc lõng, không có tác dụng gì đến thị trường, kể cả vai trò định hướng. Lãi suất này chỉ phát huy tác dụng khi NHNN sử dụng LSCB và quy định của Bộ luật Dân sự để ổn định thị trường từ tháng 5/2008.
Những lý giải nêu trên nhằm đề nghị bỏ LSCB là đúng về mặt lý thuyết. Song, chúng tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, chưa thể bỏ LSCB vì những lý do sau:
Nền
kinh tế Việt
Lãi suất tiền vay, về bản chất là giá bán của hoạt động cho vay- một hàng hóa đặc thù. Cho đến nay, trong nền kinh tế nước ta còn khá nhiều mức giá của hàng hóa, dịch vụ thuộc diện do Nhà nước quản lý. Lãi suất tiền vay có ảnh hưởng rất lớn và ở phạm vi rộng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Vì vậy, không thể vội vàng thả nổi mức giá của dịch vụ này theo kinh tế thị trường. Quy định LSCB tức là NHNN thực hiện chức năng quản lý giá của mình.
Thị trường vốn ở nước ta còn rất đơn điệu và nhỏ bé. Vay vốn ở các TCTD vẫn là “cửa” gần như là duy nhất đối với các doanh nghiệp để phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Sự bình đẳng giữa người cho vay- các TCTD, với người đi vay- các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, chưa thực sự được thiết lập. Khi cần vay vốn, người đi vay luôn luôn ở thế yếu, phải chấp nhận mọi điều kiện của người cho vay. Chẳng hạn, dù biết các TCTD đã “lách luật” thu thêm rất nhiều khoản phí ngoài lãi suất tiền vay như phí thẩm định hồ sơ, phí quản lý tài sản đảm bảo, phí rút tiền... là không hợp lý, hợp lệ nhưng người vay vẫn phải chấp nhận. Lẽ ra, Thanh tra ngân hàng phải vào cuộc và yêu cầu chấm dứt việc thu thêm các khoản phí nêu trên. Vì vậy, nếu bỏ LSCB, chắc chắn các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh sẽ phải chịu lãi suất tiền vay cao hơn nhiều lần và khó có thể chịu đựng nổi.
Luật Cạnh tranh chưa được tôn trọng và phát huy hiệu quả rất yếu trong thực tế ở nước ta. Do đó, bỏ LSCB, chắc chắn sẽ có sự liên minh giữa các TCTD về lãi suất tiền vay nhằm thao túng thị trường, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế.
Không thể phủ định hoàn toàn tác dụng của LSCB. Tuy có những thời kỳ, LSCB gần như không có vai trò gì trong thực tế, nhưng đó là thời kỳ nền kinh tế đang phát triển “êm đềm, trôi chảy”. Khi xảy ra lạm phát, cần hạn chế tăng trưởng tín dụng và ngược lại, LSCB đã và đang trở thành “cây gậy chỉ huy” có hiệu quả. Hơn nữa, LSCB còn là căn cứ để xác định tội danh “cho vay nặng lãi” theo pháp luật hiện hành.
Có ý kiến cho rằng, Ngân hàng Trung ương Mỹ đang áp dụng một loại lãi suất tương tự như LSCB, đó là “Federal Funds Rate”- FFR (tạm dịch là lãi suất vốn liên bang) và Việt Nam cần nghiên cứu để áp dụng. Ý kiến đó không sai, nhưng FFR chưa thể áp dụng ngay ở nước ta vì nền kinh tế Mỹ đã là nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh từ rất nhiều năm nay.
Hải Yến
